Tin tức Nhà hàng Mì quảng Mỹ Sơn

TIN TỨC MỸ SƠN

TÌNH QUÊ TRONG TÔ MỲ QUẢNG

Nguyên Âm, một thi sĩ Quảng Nam vào Sài Gòn dự họp mặt đồng hương. Bữa tiệc tổ chức tại nhà hàng mỳ Quảng Mỹ Sơn (số 7, Kỳ Đồng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh). Trong bữa tiệc, Nguyên Âm xuất khẩu thành thơ, một bài thơ đường tám câu bảy chữ như sau:

 

 

 

Mỳ Quảng Mỹ Sơn như tiếng đồn

Mới nghe vị giác đã thấy ngon

Dân dã – đậm đà hương đất Quảng

Xa quê giữ mãi tấm lòng son!

Mỳ Quảng vào đây gốc Mỹ Sơn

Bà con ăn thử món nào hơn?

Hồn quê chan chứa tô mỳ đấy

Cầm đũa mà lua, sướng đã người!

 

Bài thơ được “xuất bản mồm” ngay tại nhà hàng và được chủ quán xin bản quyền. Bài thơ có phong cách, giọng điệu ngôn từ rất Quảng Nam.

 

          Mở đầu bài thơ là hai câu đề giới thiệu gốc gác cũng như danh tiếng của nhà hàng này:

 

Mỳ Quảng Mỹ Sơn như tiếng đồn

Mới nghe vị giác đã thấy ngon

 

          Ai đã từng đi du lịch Quảng Nam đều không thể bỏ qua hai điểm đến lý tưởng là Phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Hóa ra chủ nhà hàng này là người Duy Xuyên- Quảng Nam vào Sài Gòn sinh sống và muốn gửi hồn quê trong tô mỳ Quảng cho những người con xứ Quảng xa quê. Nhà hàng này trở thành thương hiệu nổi tiếng từ lâu, mới nghe đến tên là “vị giác đã thấy ngon”. Ngon ở đây chẳng phải do sức hấp dẫn của một món ăn lạ mà chỉ vì mỳ Quảng là một món ăn rất quen thuộc với  người dân xứ Quảng. Người Quảng xa quê mỗi khi nghe ai đó nhắc đến món ăn này đã thấy thèm huống chi nghe danh nhà hàng mỳ Quảng nổi tiếng. Từ “ngon” đầy ắp tình quê hương như nhạc sỹ Trần Quế Sơn đã nói về Quảng Nam trong bài “Tình quê”: “Thương mía đường thơm, tô mỳ gạo mới…”.

 

          Mỗi người khi xa quê  nhớ về quê mới hiểu, tùy thuộc vào những kỷ niệm từng có nơi quê nhà. Với Bàng Bá Lân thì “Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”. Với Tế Hành thì “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá” ở làng chài Quảng Ngãi. Phải chăng “cái mùi nồng mặn” ấy là mùi của nắng, của cát, của gió, của muối biển lẫn với mùi mồ hôi lao động của trai tráng làng chài. Xa quê ta nhớ cái mùi quê hương, xa tình ta nhớ hương người tình. Cái mùi tình đó phải chăng là những kỷ niệm một thời bên nhau. Những kỷ niệm đó được đánh thức trong hiện tại bằng một làn hương, một âm thanh, một sắc màu, một mùi vị:

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh anh mến lá sân trường

(Nguyên Sa)

 

          Cụ Nguyễn Du nói không sai: “Hương gây mùi nhớ, trà khang giọng tình”

          Chính cái mùi hương dĩ vãng ấy mà ông vua đa tình Tự Đức đã muốn:

Đập vỡ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi

 

          Tác giả Nguyên Âm đã cùng phái đoàn Huyện ủy Đại Lộc vào Sài Gòn đi dự “họp mặt đồng hương Quảng Nam”. Anh được Hội đồng hương đưa đi ăn mỳ Quảng (đây là cái cách thể hiện tình quê của anh em đồng hương xa quê). Chừ mới nghe mỳ Quảng đã thấy dịch vị tiết ra rồi. Đây phải chăng là độ nhạy bén của người dân Quảng chưa mưa đã thấm, chưa nhấm đã say…? Không phải ngon vì vị ngon thực phẩm mà ngon vì hồn quê chan chứa.

 

          Sao gọi là dân dã?

 

          Là vì cái nguyên liệu làm ra tô mỳ Quảng rất dễ kiếm ở nông thôn. Nguyên liệu gần gũi nhất là gạo. Gạo xay thành bột loãng rồi đem tráng lên trên một tấm vải đã được bịt kín trên một nồi nước sôi chụm bằng củi. Ngày xưa không có dịch vụ tráng bánh, nhà nào cũng sắm được một cối xay bột, một nồi tráng bánh.

 

          Còn thế nào là đậm đà?

 

          Đó là sự tương tác, hòa quyện giữa chất tinh bột của gạo, chất béo của đậu phụng khử nén và đậu phụng  rang giòn, vị thơm của các loại rau phụ gia (húng, ngò, quế…), vị cay nồng của ớt xanh. Rau chính dùng cho mỳ Quảng phải là cải con, búp chuối sứ hoặc chuối cây non xắt thật mỏng. Đặc biệt, ăn mỳ Quảng mà không có bánh tráng nướng kèm theo để tạo ra âm thanh giòn giã thì thật là thiếu năm mươi phần trăm sự ngon miệng. Quảng Nam người ta ăn mỳ gần như ăn cơm bữa. Khách đến chơi: làm mỳ. Đám giỗ: làm mỳ cúng ông bà. Đãi thợ: làm mỳ. Con cháu về chơi: làm mỳ…

 

          Chính món ăn dân dã, đậm đà gẫn gũi nên người Quảng Nam tha hương nào cũng nhớ đến tô mỳ Quảng.

 

          Trong một bài thơ đường, hai câu luận là hai câu mà tác giả có quyền bảy tỏ ý kiến chủ quan của mình:

 

Mỳ Quảng vào đây gốc Mỹ Sơn

Bà con ăn thử món nào hơn?

 

          Dường như, tác giả muốn tiếp thị món ăn của quê hương mình cho bà con xa gần rằng cứ ăn thử một lần thì sẽ biết ngay; và tác giả xác định không có món nào ngon hơn nữa. Có lẽ chẳng ai phiền trách gì về một niềm tự hào quá mức về quê hương mình của tác giả.

 

          Hai câu kết là hai câu vừa kết thúc gói gọn, vừa mời mọc, khích lệ vừa khuyến động khách hàng mau cầm đũa:

 

Hồn quê chan chứa tô mỳ đấy

Cầm đũa mà lua, sướng đã người!

 

          Câu thơ thô mộc cuối bài làm cho tô mỳ thêm phần nóng sốt. “Sướng đã người” đã khiến cho ta cẩm thấy “đã người” như vừa dùng xong một tô mỳ nóng hổi. Lão Hạc của Nam Cao đã nói với ông giáo một câu đầy chất triết luận: “ Không nên trì hoãn sự sung sướng”. Ở đời có bốn cái sướng, trong đó ăn là cái sướng hàng đầu. Vấn đề ăn cái gì, ăn với ai, ăn ở đâu, ăn như thế nào cho sướng? Ăn một món quê hương với người đồng hương nơi xứ lạ quê người thì chẳng “sướng đã người” hay sao?

 

          Nguyên Âm dùng từ “lua” thiệt là quá đã. Ăn cháo thì húp, ăn cơm thì và, ăn mì thì phải lua.

 

          Lời thơ Nguyên Âm phát thực nhưng thâm trầm ý vị, ý thơ bộc trực nhưng có chiều sâu lắng. Bài thơ này là bài thơ đường hiếm thấy trong thơ của anh. Nó chỉ được xuất bản mồm song đã được nhanh chóng phổ biến rộng rãi trong anh em đồng hương Quảng Nam.

 

          Phải chăng vì bài thơ chan chứa tình quê (trong tô mỳ Quảng)?

 

                 Phạm Đạt Nhân